Tìm kiếm... Tìm kiếm
Hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh Việt Nam, hàng hóa có công đoạn gia công giản đơn và hàng hóa có tỷ lệ dưới 30% không được coi là hàng "made in Vietnam”
X.Vinh - 02/08/2019 - 14:43

Hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh Việt Nam, hàng hóa có công đoạn gia công giản đơn và hàng hóa có tỷ lệ dưới 30% không được coi là hàng "made in Vietnam”

Bộ Công Thương vừa lấy ý kiến dự thảo Thông tư về tiêu chí dán mác "made in Vietnam" cho hàng sản xuất trong nước lưu thông trên thị trường nội địa.

Theo dự thảo, Hàng "made in Vietnam" ngoài đạt tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa 30%, còn phải vượt qua khâu gia công đơn giản. Sản phẩm được coi là "made in Vietnam" nếu có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam, như cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng, khoáng sản...

Theo Điều 7 Dự thảo, hàng hóa được coi là hàng hóa của Việt Nam trong các trường hợp sau:

- Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam;

- Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua giai đoạn gia công, chế biến cuối cùng tại Việt nam làm thay đổi cơ bản tính chất của hàng hóa.

Đồng thời, Dự thảo Thông tư cũng nêu rõ cách xác định hàng hóa có xuất xứ thuần túy và hàng hóa không có xuất xứ thuần túy như thế nào được coi là hàng hóa của Việt Nam.

Hàng hóa có xuất xứ thuần túy tại Việt Nam

Hàng hóa được coi là có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam khi thuộc một trong các trường hợp sau:
 

Stt

Hàng hóa

1

Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam

2

Động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại Việt Nam

3

Sản phẩm từ động vật sống được sinh ra và nuôi dưỡng tại Việt Nam

4

Sản phẩm thu được từ săn bắn, đặt bẫy, đánh bắt, nuôi trồng, thu lượm hoặc săn bắt tại Việt Nam

5

Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển của Việt Nam

6

Sản phẩm lấy từ nước, đáy biển hoặc dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải, nơi Việt Nam có quyền khai thác đối với vùng nước, đáy biển và dưới đáy biển theo luật pháp quốc tế

7

Các sản phẩm đánh bắt và các hải sản khác đánh bắt từ vùng biển quốc tế bằng tàu được đăng ký ở Việt Nam hoặc được phép treo cờ của Việt Nam

8

Sản phẩm được chế biến hoặc được sản xuất từ các sản phẩm đánh bắt và các hải sản khác đánh bắt từ vùng biển quốc tế ngay trên tàu được đăng ký ở Việt Nam hoặc được phép treo cờ của Việt Nam

9

Các vật phẩm thu được trong quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng ở Việt Nam hiện không còn thực hiện được chức năng ban đầu, không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên liệu, vật liệu thô, hoặc sử dụng vào mục đích tái chế

10

Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất từ các sản phẩm nêu trên

 

Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy Việt Nam

Sở dĩ Bộ Công Thương xây dựng riêng một Thông tư về xuất xứ hàng hóa Made in Vietnam là bởi cách xác định thế nào là hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng được dán nhãn Made in Vietnam.

Dự thảo này đưa ra 2 tiêu chí để xác định hàng hóa có xuất xứ không thuần túy là:

- Tiêu chí “Chuyển đổi mã số hàng hóa”;

- Tiêu chí “Hàm lượng giá trị gia tăng”.

Trong đó, tiêu chí “Chuyển đổi mã số hàng hóa” được dùng để xác định nguyên liệu không có xuất xứ đã được gia công, chế biến đầy đủ tại Việt Nam hay chưa.

Còn tiêu chí “Hàm lượng giá trị gia tăng” được tính theo một trong hai công thức:

a.       Công thức trực tiếp:

VAC =

Trị giá nguyên liệu đầu vào

có xuất xứ Việt Nam

x 100%

Trị giá EXW


Hiểu đơn giản, một hàng hóa được xác định là có xuất xứ Việt Nam khi có giá trị nguyên liệu đầu vào có xuất xứ Việt Nam chiếm 30% giá trị xuất xưởng (trị giá EXW) của hàng hóa đó.

“Trị giá nguyên liệu đầu vào có xuất xứ Việt Nam” gồm trị giá của nguyên liệu mua của nhà sản xuất trong nước hoặc do tổ chức, cá nhân tự sản xuất; chi phí nhân công trực tiếp, chi phí phân bổ trực tiếp, các chi phí khác và lợi nhuận.

Ví dụ: Một gói kẹo dừa có giá xuất xưởng là 100 nghìn đồng, nếu trị giá nguyên liệu đầu vào có xuất xứ tại Việt Nam chiếm 30% thì là hàng Made in Vietnam. 

b.      Công thức gián tiếp;

 

VAC =

Trị giá EXW

-

Trị giá nguyên liệu đầu vào

không có xuất xứ Việt Nam

x 100%

Trị giá EXW


Theo đó, trị giá xuất xưởng trừ đi trị giá nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ Việt Nam chiếm 30% trị giá xuất xưởng của hàng hóa, thì hàng hóa có xuất xứ Việt Nam.

 

 

Trường hợp hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ tại Việt Nam nhưng trải qua công đoạn gia công, chế biến cuối cùng và đảm bảo 2 tiêu chí về chuyển đổi mã số (mã HS) và hàm lượng giá trị gia tăng... thì được coi là hàng hoá của Việt Nam.

Cách xác định hàm lượng giá trị gia tăng được xác định theo 2 công thức gián tiếp hoặc trực tiếp. Ở cách trực tiếp, nếu hàng có giá nguyên liệu đầu vào xuất xứ ở Việt Nam chiếm 30% giá xuất xưởng, thì được coi là hàng "made in Vietnam". Còn cách gián tiếp là giá xuất xưởng trừ đi giá nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ Việt Nam.

Để xác định rõ hơn điều này, Bộ Công Thương đưa ra các ví dụ cụ thể từng mặt hàng với mã HS khác nhau để xác định tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa. Phần lớn các sản phẩm này có tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa 30%. Tuy nhiên để được xem là hàng "made in Vietnam", ngoài đạt tỷ lệ hàm lượng giá trị gia tăng nội địa là 30%, thì hàng hoá này còn phải vượt qua khâu gia công đơn giản. 

Tiêu chí thứ hai để xác định hàng hóa có được dán nhãn "made in Vietnam" hay không là "chuyển đổi mã số HS". Tiêu chí này cho phép doanh nghiệp có thể sử dụng 100% nguyên liệu nhập khẩu hoặc không xác định về xuất xứ trong quá trình sản xuất, miễn là quy trình đó vượt qua công đoạn gia công đơn giản.

Ví dụ, với mặt hàng gỗ ván ép, hiện nay các doanh nghiệp đều áp dụng tiêu chí xác định quy tắc xuất xứ là "chuyển đổi mã số hàng hóa" do khó truy xuất các loại gỗ trong tấm ván ép được doanh nghiệp mua từ nguồn nào, đơn vị nào cung cấp. Do đó trường hợp áp dụng tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa, doanh nghiệp mua trong nước hay nhập khẩu nguyên vật liệu làm nên tấm gỗ ván ép và vượt qua gia công đơn giản... vẫn thỏa mãn quy định về quy tắc xuất xứ. 

Không phải hàng Việt Nam nếu chỉ gia công đơn giản

Tuy nhiên, không phải cứ có trị giá nguyên liệu đầu vào có xuất xứ tại Việt Nam đạt 30% thì được coi là hàng hóa Việt Nam. Đặc biệt lưu ý với hàng hóa có công đoạn gia công, chế biến đơn giản. Hàng hóa không có xuất xứ Việt Nam nếu chỉ trải qua một hoặc kết hợp nhiều công đoạn sau:

- Các công việc bảo quản hàng hoá trong quá trình vận chuyển và lưu kho (thông gió, trải ra, sấy khô, làm lạnh, ngâm trong muối, xông lưu huỳnh hoặc thêm các phụ gia khác, loại bỏ các bộ phận bị hư hỏng và các công việc tương tự).

- Các công việc như lau bụi, sàng lọc, chọn lựa, phân loại (bao gồm cả việc xếp thành bộ) lau chùi, sơn, chia cắt ra từng phần.

- Thay đổi bao bì đóng gói và tháo dỡ hay lắp ghép các lô hàng; đóng chai, lọ, đóng gói, bao, hộp và các công việc đóng gói bao bì đơn giản khác.

- Dán lên sản phẩm hoặc bao gói của sản phẩm các nhãn hiệu, nhãn, mác hay các dấu hiệu phân biệt tương tự.

- Trộn đơn giản các sản phẩm, dù cùng loại hay khác loại.

- Lắp ráp đơn giản các bộ phận của sản phẩm để tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh.

- Giết, mổ động vật.

Dự thảo Thông tư cũng quy định, hàng tạm nhập tái xuất, hàng quá cảnh Việt Nam không được coi là hàng "made in Vietnam".

Với quy định, tiêu chí xác định tại dự thảo lần này, Bộ Công Thương đánh giá, các doanh nghiệp chân chính sẽ không phải đối diện với nguy cơ cáo buộc "gian lận xuất xứ", loại bỏ dần tình trạng hàng nhập khẩu "đội lốt" hàng Việt Nam như vừa qua. Ngoài ra, dự thảo Thông tư không quy định thêm thủ tục hành chính mới, nên sẽ không làm phát sinh chi phí cho doanh nghiệp.

Tại sao phải ban hành quy định về “made in Việt Nam”?

Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), hiện tượng gian lận thương mại thông qua ghi nhãn xuất xứ hàng hóa sản xuất tại Việt Nam đang ngày một tăng. Hàng nước ngoài có xu hướng mượn xuất xứ Việt Nam để hưởng lợi "miễn phí" và bất hợp pháp từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam tham gia hoặc sử dụng xuất xứ hàng hóa làm phương tiện lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại của nước nhập khẩu.


Hàng nhập khẩu xuất xứ Trung Quốc giả "made in Việt Nam" bị Hải quan Hải Phòng phát hiện, ảnh: X.Vinh

Việc này, theo Cục Xuất nhập khẩu, ảnh hưởng đến người tiêu dùng và tác động đến sản xuất trong nước, làm giảm uy tín và tính cạnh tranh của hàng sản xuất tại Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện chưa có quy định về tiêu chí để hàng hóa được ghi nhãn sản xuất tại Việt Nam nên người tiêu dùng trong nước không có căn cứ để phân biệt thế nào là hàng "Made in Vietnam". 

Trong khi đó, các nước phát triển đều có quy định việc ghi nhãn nước sản xuất, nhằm bảo vệ hàng hoá và thương hiệu sản xuất trong nước. Với mặt hàng cần bảo hộ hoặc đã xây dựng được thương hiệu mang tầm quốc tế, các nước quy định tiêu chí cho một số sản phẩm cụ thể, như Thụy Sỹ với đồng hồ, Mỹ với ôtô, dệt may; hay New Zealand với rượu vang...

Hoặc hành vi cố tình ghi sai nhãn xuất xứ hàng hoá cũng bị xử phạt nặng tại các nước. Chẳng hạn, theo quy định của Italy, tổ chức, cá nhân gắn nhãn "made in Italy" vào sản phẩm đồ da không đáp ứng tiêu chí sản xuất tại đây có thể phải nộp phạt tới 100.000 euro. Còn tại Canada, nhà sản xuất có thể bị phạt hành chính tới 15 triệu đôla Canada hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu vi phạm ghi nhãn hàng hoá. 

Còn tại Việt Nam, các quy định hiện hành điều chỉnh chủ yếu ở nhãn hàng hóa, chỉ dẫn địa lý và thương hiệu. Khái niệm "hàng hóa Việt Nam" cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, như hàng có xuất xứ Việt Nam để hưởng ưu đãi thuế quan theo cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; hoặc hàng có công đoạn sản xuất tại Việt Nam, hàng hóa có thương hiệu của Việt Nam.

Theo Nghị định 43/2017, trên nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện nước xuất xứ. Các tổ chức, cá nhân gắn nhãn hàng hóa tự chịu trách nhiệm về ghi nước xuất xứ, dựa trên sự hiểu biết tốt nhất của họ, miễn là trung thực. 

Nhưng việc cho phép doanh nghiệp "tự nguyện" ghi nhãn hàng hoá trong khi chưa có tiêu chí xác định cụ thể thế nào là hàng Việt, "made in Vietnam"... đã dẫn đến thực tế có doanh nghiệp ghi nhãn tùy tiện như trường hợp Khaisilk trước đây hay nghi vấn Asanzo mới đây.

Do đó, cần sớm hoàn thiện thể chế pháp lý về ghi nhãn sản xuất "Made in Vietnam", đáp ứng được yêu cầu của người tiêu dùng và thị trường.

 

 


  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Các tin đã đưa
 
  • Nâng cao chất lượng phục vụ, phát triển mối quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp" (09/05/2020 - 16:24)
  • Kiểm soát lịch trình giao vận đường biển, đây là cách tối ưu doanh nghiệp nên áp dụng" (07/04/2020 - 11:38)
  • Triển khai Hệ thống đánh giá chất lượng phục vụ của công chức thuộc Cục Hải quan thành phố Hải Phòng trong quá trình giải quyết thủ tục" (25/03/2020 - 09:32)
  • Cục Hải quan TP Hải Phòng thay đổi mẫu Bản thỏa thuận phát triển quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp" (21/02/2020 - 14:53)
  • Nộp thuế điện tử theo hình thức DOANH NGHIỆP NHỜ THU - Tiện ích mới! Liệu doanh nghiệp đã biết?" (27/12/2019 - 08:56)
  • Phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp – Hội nhập, hiệu quả, bền vững" (25/12/2019 - 11:19)
  • Quyết định số 3605/QĐ-TCHQ ngày 13/12/2019 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành Quy chế tổ chức thi cấp Chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan" (20/12/2019 - 11:12)
  • Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Hải phòng khu vực 3 tổ chức Hội nghị triển khai nội dung về quan hệ đối tác Hải quan - Doanh nghiệp; tập huấn, phổ biến một số quy định của pháp luận về thủ tục hải quan" (18/11/2019 - 16:59)
  • Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng hỗ trợ, hướng dẫn thủ tục miễn giảm thuế đối với thiết bị nhập khẩu vào Việt Nam của đoàn công tác Hiệp hội Hợp tác kỹ thuật quốc tế thành phố Kitakyushu" (22/10/2019 - 09:40)
  • Quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng" (11/07/2019 - 14:37)
  • Chuyển trang    
    Trang số:  1/5
    Số bản ghi trên trang:
    Thư viện ảnh
    Liên kết website
    Mua
    Bán
    Không tải được tỷ giá.

     
    LB.Counter